Kiến thức về bệnh thoát vị đĩa đệm, đau thắt lưng (phần 3)
Chương II
NGUYÊN NHÂN ĐAU THẮT LƯNG
BỆNH LÝ ĐĨA ĐỆM
I. THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
II. BỆNH LÝ ĐĨA ĐỆM NHƯNG KHÔNG THOÁT VỊ
1. Hư đĩa đệm
Hư đĩa đệm (discore) còn được gọi là bệnh thoái hóa đĩa đệm (degenerative disco disease) và hư đĩa đệm – khớp (discarthrose) bao gồm quá trình thoái hóa sinh học theo tuổi và thoái hóa bệnh lý.
Bệnh hư xương sụn (osteochondrosis) do Hildebbrandt (1933) đề xuất bao gồm thoái hóa đĩa đệm và những thành phần kế cận nằm ngay dưới sụn khớp của thân đốt sống.
a) Lâm sàng
Hư đĩa đệm có ba thể lâm sàng tùy theo mức độ thương tổn của đĩa đệm (xem trang 103-104):
– Đau thắt lưng cấp
– Đau thắt lưng mạn tính tái phát
– Đau thắt lưng hông.
Hư đĩa đệm ở giai đoạn sau có thể xuất hiện đau thắt lưng hông vì thương tổn các rễ thần kinh thắt lưng – cùng. Đó là do những biến đổi về hình thái và cấu trúc của một sống thắt lưng : mất đường cong sinh lý cột sống thắt lưng và khoang gian đốt sống đã bị giảm, lỗ gian đốt sống bị hẹp dẩn đến sự kích thích, chèn ép và viêm rễ, nhất là khi cột sống phải chịu trọng tải quá mức, tư thế bất lợi và chấn thương.
b) Cận lâm sàng
– Chụp đĩa đệm cản quang hoặc MRI: ở người trẻ nhân nhầy đĩa đệm và lớp trong của vòng sợi đĩa đệm có cường độ tín hiệu cao; cường độ tín hiệu đó giảm khi tuổi ngày càng cao và khi có thoái hóa đĩa đệm.
– Chụp CT scan hoặc chụp bao rễ thần kinh: phát hiện khi đã có lồi hoặc thoát vị đĩa đệm ra sau.
2. Viêm đĩa đệm
a) Viêm đĩa đệm do vi khuẩn: do vi khuẩn đặc hiệu như lao hoặc không có đặc hiệu như liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, coli…
– Có hai thể:
+ Viêm đĩa đệm đơn độc: có thể vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào đĩa đệm, thương do thầy thuốc bằng con đường mổ đĩa đệm, tiêm thuốc vào đĩa đệm. Viêm đĩa đệm có thể do viêm nhiễm qua đường máu do các mạch máu đĩa đệm còn tồn tại ở trẻ em hoặc do tái xuất hiện ở người già.
+ Viêm đĩa đệm – cột sống: đa số các trường hợp viêm đĩa đệm ở người lớn đều xuất phát từ các quá trình viêm các đốt kế cận.
– Đặc điểm lâm sàng:
Viêm đĩa đệm không đặc hiệu diễn biến nhanh, dữ dội hơn và có những phản ứng xương nặng hơn với những cầu xương và vùng xơ hóa rộng,
Viêm đĩa đệm có thể lan lên phía trên hoặc xuống phía dưới dây chằng trước làm thành các ổ áp xe hình thoi dọc theo bao cơ thắt lưng làm cho hình cơ này trên phim X quanh rộng hơn bình thường.
Năm 1988, Hồ Hữu Lương đã phát hiện được một trường hợp viêm đĩa đệm do lao và nhận thấy đặc điểm lâm sàng của viêm đĩa đệm do lao là đau dai dẳng tại vùng đĩa đệm bị viêm, sốt dai dẳng (thường sốt về chiều).
Bệnh án 171/1988 – bệnh nhân Trần Trọng N. 24 tuổi vào khoa Thần Kinh Quân Y 103 ngày 25/5/1988 ra viện 12/7/1988.
Từ tháng 10 năm 1987 tự nhiên đau ầm ỉ cột sống thắt lưng, đau liên tục, đau tăng khi lao động nặng và khi cúi xuống, được điều trị vitamin nhóm B, alalgin và Indomethacin, bệnh có đỡ. Từ tháng 3/1988 bệnh nhân bị sốt dai dẳng, nhiệt độ từ 37o1 – 37o6, sốt hằng ngày vào buổi chiều, khi đau thắt lưng thì sốt tăng. Cảm giác mệt mỏi da sạm dần. Khám thực thế thì chỉ thấy rõ điểm đau cột sống và điểm đau cạnh sống L5 bên trái, đau lan xuống đùi trái. Tốc độ lắng máu và thường xuyên tăng từ 50/90 mm đến 105/120mm, x quang tim phổi bình thường. Hình ảnh chụp X quang cột sống có biểu hiện thoái hóa nhẹ cột sống thắt lưng, dịch não tủy albumin tăng nhẹ (51mg%), tế bào bình thường (1-2 bạch cầu/vi trường) bệnh nhân đã được điều trị nhiều đợt kháng sinh, corticoid nhưng không quá kết quả. Ngày 1/6/1988 chúng tôi tiến hành sinh thiết hút đĩa đệm bằng dụng tự tạo (bằng bơm tiêm cải tiến từ bơm tiêm dùng trong chụp động mạch não để chụp đĩa đệm và sinh thiết hút đĩa đệm) của Hồ Hữa Lương (1988).
Bệnh phẩm đã được nuôi cấy tại khoa vi sinh vật Viên Quân Y 103, kết quả có trực khuẩn lao (BK). Từ 26/6/1988 bệnh nhân được điều trị tích cực bằng thuốc chống lao kết quả bệnh giảm rõ rệt. Bệnh nhân và viện, điều trị củng cố và sau đó tiếp tục công tác.
– Cận lâm sàng:
Trên phim X quang (cắt lớp) đĩa đệm có hình ảnh giảm chiều cao đĩa đệm, bờ viền nham nhở và mờ.
Chụp tia đồng vị phóng xạ (gammaraphie) có thể thấy tăng độ hoạt động cục bộ (activites locale) của đồng vị phóng xạ tại chổ viêm đĩa đệm.
b) Viêm đĩa đệm dạng thấp: viêm không do vi khuẩn đĩa đệm, biểu hiện lâm sàng không rõ nét, trên phim X quang thấy ở vùng ranh giới đĩa đệm – thân đốt sống có vùng tổ chức xốp bị dày hóa. Viêm đĩa đệm dạng thấp chỉ gặp trong các bệnh viêm dạng thấp nhất là trong viêm đốt sống cứng khớp (spondylite ankylosante) và viêm khớp dạng thấp.
3. U đĩa đệm
– Chưa thấy u đĩa đệm nguyên phát.
– U đĩa đệm thường do di căn. Những khối u tử ổ bụng hoặc từ trung thất có thể phát triển thẩm lậu sang đĩa đệm.
4. Vôi hóa và xương hóa đĩa đệm
Là do quá trình kết tinh hoa của các muối vôi. Vôi hóa ở nhân nhầy và cả ở vòng sợi. Vôi hóa ở nhân nhầy là những cặn lắng của acid carbonic và acid phosphoric.
Hiện tượng vôi hóa đĩa đệm ở trẻ em và thanh niên thương do thấp, do vi khuẩn hoặc chấn thương.
Hiện tượng xương hóa đĩa đệm: do sự tổ chức hóa thế bào liên kết sau khi bị viêm hay bị thương ở khoang gian đốt sống, các tế bào tạo xương cũng xen lẫn vào. Do đó toàn bộ khoang gian đốt sống có thể bị thay thế bởi tổ chức xương sống (thường gặp ở bệnh viêm cột sống dính khớp).
Lâm sàng: vôi hóa và xương hóa đĩa đệm không gây đau đớn cho bệnh nhân.
5. Loạn dưỡng sụn
Đặc điểm của loạn dưỡng sụn (chondrodisttrophie):
– Bệnh di truyền trội
– Có sự tăng sinh không đầy đủ của tế bào sụn, phát triển về chiều dài bị hạn chế.
– Biểu hiện bệnh lý.
Ở trẻ sơ sinh thân đốt sống hình đĩa bẹt, có hình lỡm chởm răng cưa ở phía trước.
Ở người lớn, chiều cao của thân đốt bị giảm ở phía sau và hẹp ống sống do thân đốt sống lồi ra sau và do cung đốt sống quá ngắn (do sự hợp nhất quá sớm ở đầu xương cung đốt sống).
– Có xu hướng bị hư đĩa đệm.
Dùng thử miễn phí tuần đầu thuốc đau thắt lưng, thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm TẠI ĐÂY :
DÙNG THỬ MIỄN PHÍ
