Thoát vị đĩa đệm cột sống (phần 6)
Đăng ký Dùng thử miễn phí tuần đầu thuốc đặc trị thoát vị đĩa đệm cột sống TẠI ĐÂY :
DÙNG THỬ MIỄN PHÍ
Chương II
BỆNH CĂN, BỆNH SINH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG
I.THOÁI HÓA ĐĨA ĐỆM
Do hai quá trình thoái hóa sinh học và thoái hóa bệnh lý của đĩa đệm dẫn đến hư đĩa đệm (discosis) hay bệnh thoái hoá đĩa đệm (degenerative disco disease).
- Thoái hóa sinh học
Đĩa đệm bị thoái hóa sinh học theo tuổi (lão hóa) theo quy luật sinh học, các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharid sẽ giảm sút và rối loạn, chất lượng của sụn sẽ bị kém dần, tính chất đàn hồi và chịu lực giảm, hơn nữa tế bào sụn ở người trưởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo.
Ở động vật đi bằng bốn chân, từ đoạn ngực trở xuống cột sống tạo thành một đường cong hình cung lõm xuống để thích nghi với trọng tải rong tư thế nằm ngang. Ở người trong giai đoạn bào thai cột sống cũng có dạng hình cung, khi ra đời với dáng đi đứng thẳng dần dần cột sống hình thành các đoạn cong kế tiếp nhau để thích ứng với trọng lực cơ thể đứng thẳng. Các đĩa đệm, nhất là đĩa đệm L4-L5 và L5-S1 phải gánh chịu toàn bộ sức nặng cơ thể và trọng tải bổ sung trong các hoạt động hằng ngày. Hậu quả của tư thế đứng thẳng làm cho đĩa đệm phải chịu áp lực cao thưởng đứng thẳng làm cho đĩa đệm phải chịu áp lực cao hơn thường xuyên nên mạch máu bị dồn ra khỏi đĩa đệm. Đĩa đệm chỉ được nuôi dưỡng bằng thẩm thấu cho nên đĩa đệm trở thành loại mô hình dinh dưỡng chậm điển hình do đó loạn dưỡng và thoái hóa sớm xuất hiện. Ở lứa tuổi 30 đã xuất hiện thoái hoá về cấu trúc và hình thái của đĩa đệm. Quá trình thoái hóa tăng dần theo tuổi, diễn ra liên tục trong suốt đời người.
- Thoái hóa bệnh lý
Do nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động vào đĩa đệm:
- a) Yếu tố cơ học
Biểu hiện bằng sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của đĩa đệm hay còn gọi là hiện tượng quá tải, là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hóa đĩa đệm tăng nhanh. Do các yếu tố sau:
- Các biến dạng thứ phát của cột sống sau chấn thương, vi chấn thương, viêm hoặc u đĩa đệm.
- Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi điểm tỷ nén bình thường của cột sống.
- Tăng trọng tải: tăng cân quá mức do béo, do nghề nghiệp.
- Yếu tố di truyền
Theo Wilson (1988), sự sắp xếp và chất lượng của colagen trong vòng sợi di truyền là do yếu tố di truyền hư đĩa đệm mang tính chất gia đình.
- Yếu tố miễn dịch
- Tăng miễn dịch dịch thể, tạo nên kháng thể tổ chức đĩa đệm. Antonov và Latysheva (1982) đã thấy 76,8% bệnh nhân có tăng kháng thể đối với kháng nguyên là tổ chức nhân nhầy và 77% có kháng thể đối với kháng nguyên là tổ chức của vòng sợi đĩa đệm trong giai đoạn cấp của bệnh. Khi trong máu xuất hiện kháng nguyên từ đĩa đệm bị thương tổn đã tạo nên phức hợp kháng nguyên – kháng thể miễn dịch thể dịch.
- Tăng đáp ứng miễn dịch tế bào: do các tác nhân bệnh lý hay do rối loạn chuyển hóa di truyền trong các tế bào, vai trò của lympho T kìm hãm bị giảm sút và mất khả năng điều hòa sự tạo các kháng thể của cơ quan chuyên biệt. Vì vậy số lượng của kháng thể tăng lên và xuất hiện quá trình tự miễn dịch. Antonov và Latysheva nhận thấy bệnh nhân hư xương sụn cột sống thì lympho T tăng (63,02%) (ở người bình thường là 41,6%) trong đó tỷ lệ lympho T kìm hãm lại giảm rõ rệt.
- Có sự di truyền miễn dịch biểu hiện qua hệ kháng nguyên phù hợp với tổ chức: Nedjved 1987) nhận thấy ở bệnh nhân đau rễ thần kinh thắt lưng – cùng do căn nguyên đĩa đệm có HLA.B7 (human lyphocyte antigen) và HLA.B8 cao hơn bình thường (bình thường là 18% và 13%). Như vậy là có sự di truyền miễn dịch biểu hiện qua hệ kháng nguyên phù hợp tổ chức.
- Yếu tố chuyển hóa
Thoái hóa đĩa đệm da sạm nâu (ochorononse0) ( còn được gọi bệnh alcapton niệu –alcaptonuria)là bệnh di truyền chuyển hóa do thiếu men homgentisicase nên quá trình chuyển hóa acid amin như tyrosin và phenylalanin bị rối loạn , chỉ được tiến hành đén giai đoạn alcapton ( còn gọi là acid homogentisic ). Alcapton bị ứ lại trong cơ thể sẽ tăng thải qua đường thận tạo nên bệnh alcapton niệu ( sau khi đái một thời gian nước tiểu biến màu đen : do acid homogentisic oxy hóa thành màu đen ).Khi alcapton ứ lại trong các tổ chức nhất là sụn ,acid homogentisic biến đổi thành một chất sắc tố có màu đen (nhiễm sắc tố đen ở các tổ chức :ochronose) gây nên sự biến màu ( da sạm nâu ,đen ở sống mũi ,vành tai , vành quanh giác mạc ) và gây ra thương tổn khớp đặc biệt ở cột sống ( đau và hạn chế vận động , X quang thấy vôi hóa đĩa đệm , mọc gai xương nhiều ,khớp cùng chậu bình thường ). Gen gây ra bệnh gen lặn. Vì vậy một đứa trẻ chỉ bị bệnh khi cả cha và mẹ đều mang gen bệnh .
- YẾU TỐ CHẤN THƯƠNG TRONG THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
Yếu tố chấn thương có thể là:
- Yếu tố chấn thương cấp: đau thắt lưng – hông xuất hiện trong hoặc trượt ngã khi mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột trong khi mang vác nặng, cúi nâng vật nặng, thay đổi tư thế đột ngột trong khi mang vác nặng).
- Vi chấn thương: là những sang chấn, những quá tải cho cột sống thắt lưng không đủ mạnh như yếu tố chấn thương cấp nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần (ví dụ: đau thắt lưng hông xuất hiện sau một đợt lao động mang vác nặng).
Yếu tố chấn thương, vi chấn thương là yếu tố gây khởi phát thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên cũng có những trường hợp thoát vị đĩa đệm hình thành trong điều kiện không có chấn thương, vi chấn thương,ở đây vai trò của thoái hóa đĩa đệm là chủ yếu.
R.Cailiet (1980) đã phân tích: thoát vị đĩa đệm có thể hình thành trong 3 tình huống: 1) tải trọng bất thường (quá tải) trên một cơ chế bình thường (sai lệch). Tác giả cũng nhấn mạnh tác hại của động tác xoay quá mức gây rạn rách vòng sợi đĩa đệm.
Theo thống kê của Hồ Hữu Lương (1986) 55% bệnh nhân thoát vị đĩa đệm có 48% trường hợp chấn thương đột ngột là yếu tố khỏi phát thoát vị đĩa đệm, trên cơ sở đĩa đệm đã bị thoái hóa, còn 7% là yếu tố chấn thương mạnh và đột ngột trên một đĩa đệm bình thường và gây thoát vị đĩa đệm). Trông số 48% trường hợp chấn thương có 4% trường hợp thoát vị đĩa đệm khởi phát sau động tác xoay cột sống quá mức, 23% sau cúi nâng vật nặng). 31% trường hợp khởi phát thoát vị đĩa đệm do yếu tố vi chấn thương từ tử trên cơ sở đĩa đệm đã bị thoái hóa. 14% trường hợp thoát vị đĩa đệm hình thành do thoái hóa đĩa đệm không do chấn thương, vi chấn thương
Bệnh án thoát vị đĩa đệm khởi phát đột ngột tác động xoay cột sống quá mức:
Nguyễn Thị X. 49 tuổi. Địa chỉ: XNDPTW1. Thoát vị đĩa đệm khởi phát đột ngột trong khi đang chơi tennis. Ngày 16 tháng 3 năm 2002, khi bệnh nhân xoay người mạnh để đập quả bóng thì lập tức bị đau vùng thắt lưng lan xuống hai chân, bệnh nhân không đi được nữa, nhưng nằm vẫn co duỗi chân được. Hình ảnh cộng hưởng từ thoát vị đĩa đệm L4-L5 và L5-S1 thể trung tâm, mức độ nặng (độ 3 theo Hồ Hữu Lương – 1986). Bệnh nhân đã được phẫu thuật lấy từ đĩa đệm tại bệnh viện Việt Đức ngày 18-3-2003.
III. NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
- Tuổi
Thoát vị đĩa đệm thường gặp ở lứa tuổi trẻ, rất hiếm gặp ở trẻ dưới 15 tuổi và người trên 60 tuổi. Nghiên cứu trên 61 bệnh nhân TVĐ Đ thắt lưng đã điều trị tại khoa Thần Kinh Viện Quân Y 103 từ năm 1983 – 1985, Hồ Hữu Lương (1986) nhận thấy đa số TVĐĐ thắt lưng xảy ra lứa tuổi 20 -49 (91,8%), ttrong đó thường gặp ở lứa tuổi 20 – 39 (75,4%); dưới 40 tuổi là 78,7%; dưới 20 tuổi là 3,3%; từ 50 tuổi trở lên chỉ chiếm 4,9%
Đa số thoát vị đĩa đệm thắt lưng xảy ra ở tuổi từ 20 – 49 vì đây là thời kì hoạt động mạnh nhất của con người, đĩa đệm cốt sống phải chịu tác động trọng tải lớn và các chấn thương, vi chấn thương. Ở lứa tuổi cao, tuy sức đề kháng của con người ngày càng kém và vòng sợi thoái hóa đã bị đứt, rách nhưng vẫn ít xảy ra thoát vị đĩa đệm vì nhân nhầy đã bị thoái hóa khô cằn, giảm áp lực căng phồng dẫn đến giảm khả năng di chuyển linh động của đĩa đệm.
- Giới
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới, lứa tuổi trẻ, theo Hồ Hữu Lương (1986) 82% bệnh nhân thoát vị đĩa đệm là nam giới (nghiên cứu tại một bệnh viện quân đội), có thể là do nam giới lao động mang vác nặng nhiều hơn nữ giới hoặc ống sống thắt lưng của nam giới nhỏ hơn của nữ.
- Nghề nghiệp
Theo Deshayes P., trong 3 loại hình lao động (lao động mang vác nặng, lao động chân tay nhẹ và làm việc hành chính sự nghiệp) thì thấy tổng số bệnh nhân thoát vị đĩa đệm có tỷ lệ tương đương nhau: 36,6% .Theo Hồ Hữu Lương (1986) 39% bệnh nhân TVĐĐ cột sống thắt lưng làm nghề mang vác nặng
Một số nghề nghiệp buộc cột sống phải vận động quá giới hạn sinh lý, làm việc trong tư thế gò bò, rung xóc (lái xe cơ giới, lái xe tăng…) trong tư thế quá ưỡn, quá gù, vẹo cột sống (scoliose) có thể kết hợp với xoắn (torsion – coliose) (công nhân khuân vác, thợ quét vôi, thợ may,…) hoặc sau một đợt lao động mang vác nặng đã trở thành các vi chấn thương đối với đĩa đệm cột sống thắt lưng, thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa đĩa đệm.
- Vị trí thoái hóa đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng chủ yếu xảy ra ở hai đĩa đệm cuối, các đĩa đệm khác ít gặp hơn nhiều. Theo Hồ Hữu Lương (1986), thoát vị đĩa đệm 1 tầng chiếm tỷ lệ 77,1% và TVĐĐ nhiều tầng chiếm tỷ lệ 22,9%. thoát vị đĩa đệm một tầng ở L4 – L5 và L5 – S1 chiếm 72,2% tất cả các trường hợp thoát vị đĩa đệm đoạn thắt lưng, riêng thoát vị đĩa đệm L4 – L5 chiếm tỷ lệ cao nhất (52,5%), thoát vị đĩa đệm L5 – S1 chiếm 19,7%. Điều này chứng minh cơ chế bệnh sinh của thoát vị đĩa đệm L4 – L5 và L5 – S1 thường xuyên phải chịu áp lực trọng tải lớn nhất và lại nằm ở vùng bản lề hoạt động của cơ thể nên hay xảy ra thoát vị đĩa đệm nhất.
Tóm lại:
thoát vị đĩa đệm là hậu quả của một quá trình thoái hóa cột sống( có thể coi như một biến chứng của thoái hóa cột sống xảy ra ở tất cả thành phần của cột sống, trước hết đĩa đệm, tiếp đến là các mặt khớp, thân đốt sống, dây chằng.
Đĩa đệm nguyên vẹn có thể chịu đựng những chấn thương mạnh và trọng tải lớn. Chỉ khi đĩa đệm đã thoái hóa tới một giai đoạn nhất định, khi đó chỉ cần một lực chấn thương nhẹ hoặc một tác động của trọng tải nhẹ không cân đối có thể gây thoát vị đĩa đệm
- Bản chất của thoát vị đĩa đệm là thoát vị nhân nhầy theo vết nứt của vòng sợi ra khỏi vị trí giải phẫu bình thường. Quá trình hình thành thoát vị đĩa đệm diễn biến như sau:
+ Xẹp nhân nhầy, nứt vòng sợi.
+ Di chuyển nhân nhầy theo vết nứt.
+ Chèn ép rễ thần kinh vùng lân cận.
+ Nhân nhầy có thể bị đẩy vào ống sống gây thoát vị đĩa đệm tự do
- Bệnh căn sinh thoát vị đĩa đệm
Nghiên cứu 61 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nằm điều trị tại Khoa Thần Kinh Viện Quân Y 103 từ năm 1983 – 1985, Hồ Hữu Lương(1986) đã khái quát bệnh căn, bệnh sinh thoát vị đĩa đệm cột sống (cổ, lưng và thắt lưng) như sau:
1.Đĩa đệm bình thường bị lão hóa theo tuổi (sinh lý) dẫn đến đĩa đệm bị thoái hóa sinh học.
- Đĩa đệm bình thường bị tác động bởi các quá trình bệnh lý của bản thân đĩa đệm như yếu tố cơ học, di truyền, miễn dịch, chuyển hóa dẫn đến đĩa đệm bị thoái hóa bệnh lý
- Đĩa đệm thoái hóa sinh học kết hợp với thoái hóa bệnh lý thúc đẩy quá trình thoái hóa dẫn đến thoái hóa đĩa đệm (thoái hóa sinh học+thoái hóa bệnh lý).
4.Đĩa đệm bị thoái hóa dẫn đến thoát vị đĩa đệm chủ yếu bằng 3 con đường:
– Chấn thương đột ngột (kể cả cúi nâng vật nặng hoặc một cử động bất thường cuả cột sống (chiếm 48% trường hợp))
– Vi chấn thương cột sống chiếm (31% trường hợp).
– Đĩa đệm thoái hóa tiến triển dẫn đến thoát vị đĩa đệm ( chiếm 14% trường hợp).
- Đĩa đệm bình thường (đĩa đệm chưa bị thoái hoá) có thể xảy ra thoát vị đĩa đệm ngay sau một chấn thương mạnh và đột ngột (chỉ chiếm 7% trường hợp)
